Tin tức

Giải đáp các câu hỏi thường gặp khi ly hôn

Hỏi: Muốn đơn phương ly hôn thì phải để lý do như thế nào là cho hợp lý?

Đáp:

Mỗi cây mỗi hoa mỗi nhà mỗi cảnh, tùy từng hoàn cảnh mà có lý do khác nhau, nhưng có một số trường hợp vì lý do tế nhị, nên không thể để ra, Điều 56 Luật hôn nhân gia đình: Ly hôn theo yêu cầu của một bên có gợi ý một số lý do sau đây.

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia.

Theo quy định tại khoản 8 Nghị quyết 02/2000 của HĐTP TANDTC Hướng dẫn luật hôn nhân gia đình

a.1. Tình trạng của vợ chồng trầm trọng khi:

- Vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau như người nào chỉ biết bổn phận người đó, bỏ mặc người vợ hoặc người chồng muốn sống ra sao thì sống, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.

- Vợ hoặc chồng luôn có hành vi ngược đãi, hành hạ nhau, như thường xuyên đánh đập, hoặc có hành vi khác xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm và uy tín của nhau, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, đoàn thể nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.

- Vợ chồng không chung thuỷ với nhau như có quan hệ ngoại tình, đã được người vợ hoặc người chồng hoặc bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, khuyên bảo nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình;

a.2. Để có cơ sở nhận định đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được, thì phải căn cứ vào tình trạng hiện tại của vợ chồng đã đến mức trầm trọng như hướng dẫn tại điểm a.1 mục 8 này. Nếu thực tế cho thấy đã được nhắc nhở, hoà giải nhiều lần, nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình hoặc vẫn tiếp tục sống ly thân, bỏ mặc nhau hoặc vẫn tiếp tục có hành vi ngược đãi hành hạ, xúc phạm nhau, thì có căn cứ để nhận định rằng đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được.

a.3. Mục đích của hôn nhân không đạt được là không có tình nghĩa vợ chồng; không bình đẳng về nghĩa vụ và quyền giữa vợ, chồng; không tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ, chồng; không tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của vợ, chồng; không giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển mọi mặt.

Hỏi: Làm thế nào để ly hôn đơn phương mà đối phương không chịu đến Tòa?

Đáp:

Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về ly hôn đơn phương như sau: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.”

Như vậy, khi yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn đơn phương mà đối phương không hợp tác bằng việc không đến tòa để giải quyết việc ly hôn thì theo quy định tại khoản 1 điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 tòa án sẽ căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để xét xử vắng mặt đương sự, người tham gia tố tụng khác theo quy định của pháp luật khi có đủ các điều kiện sau:

Nguyên đơn, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt;

Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người đại diện hợp pháp của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn đề nghị xét xử vắng mặt hoặc đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt;

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn đề nghị xét xử vắng mặt hoặc đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt.

Từ quy định trên, nếu Tòa án đã triệu tập vợ/chồng bạn đến lần thứ hai mà đối phương vẫn vắng mặt không có lý do thì Tòa án sẽ tiếp tục giải quyết vụ việc ly hôn của hai vợ chồng theo quy định của pháp luật.

Hỏi: Ra tòa để giải quyết ly hôn đơn phương nhưng không muốn ly hôn nữa thì phải làm thế nào?

Đáp:

Theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi yêu cầu của mình hoặc thỏa thuận với nhau một cách tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội.

Điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự quy định:

“Sau khi thụ lý vụ án thuộc thẩm quyền của mình, Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong các trường hợp sau đây: Người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện hoặc nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, trừ trường hợp họ đề nghị xét xử vắng mặt hoặc vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan.”

Trường hợp không muốn tiếp tục ly hôn nữa, người khởi kiện ly hôn đơn phương có quyền rút đơn khởi kiện. Do Tòa án đã thụ lý vụ án nên khi rút đơn ly hôn, Tòa án sẽ ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hôn nhân gia đình.

Hỏi: Làm thế nào khi không đồng tình với kết quả xét xử sơ thẩm của Tòa án?

Đáp:

Khi hòa giải không thành, Tòa án sẽ mở phiên tòa xét xử sơ thẩm. Sau khi xét xử vụ án, Tòa án sẽ ban hành Bản án để giải quyết vụ án. Trường hợp không đồng tình với kết quả xét xử sơ thẩm, trong vòng 15 ngày kể từ tuyên án, người không đồng ý với bản án sơ thẩm phải làm đơn kháng cáo theo khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự 2015 để được Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án.

Trong thời hạn từ 2 – 3 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án, Tòa án cấp phúc thẩm phải Quyết định đưa vụ án ra xét xử. Kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa phúc thẩm trong thời hạn 01 tháng, trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn này là 02 tháng (khoản 2 Điều 286 Bộ Luật Tố tụng 2015).

Hỏi: Không biết chồng hay vợ mượn nợ hay vay tiền thì người kia có phải cùng trả nợ khi ly hôn không ?

Đáp:

Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về trường hợp vợ và chồng phải chịu trách nhiệm liên đới khi:

“1. Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch do một bên thực hiện quy định tại Khoản 1 Điều 30 hoặc giao dịch khác phù hợp với quy định về đại diện tại các điều 24, 25 và 26 của Luật này.

2. Điều 37 của Luật này quy định vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới về các nghĩa vụ quy định.”

Điều 37 luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định về nghĩa vụ chung tài sản của vợ chồng thì các nghĩa vụ sau đây sẽ dùng tài sản chung vợ chồng để giải quyết:

“1. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm

2. Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình

3. Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung

4. Nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình

5. Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà theo quy định của Bộ luật dân sự thì cha mẹ phải bồi thường

6. Nghĩa vụ khác theo quy định của các luật có liên quan.”

Từ các quy định trên có thể thấy vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới về các nghĩa vụ chung về tài sản do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình hoặc giao dịch khác phù hợp với quy định về đại diện giữa vợ chồng.

Căn cứ để xác định vợ chồng có phải liên đới chịu trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ trả nợ hay không là dựa vào mục đích khoản vay nợ là gì:

Số tiền mà chồng bạn vay dùng để sử dụng cho gia đình như: xây dựng nhà cửa, chi phí sửa chữa, việc học hành của các con…thì dù người chồng không bàn bạc và người vợ không ký vào hợp đồng vay thì về nguyên tắc, người vợ cũng vẫn phải có nghĩa vụ liên đới trả khoản nợ đó cùng chồng.

Trường hợp số tiền mà người chồng đã vay dùng để sử dụng vào mục đích nhu cầu cá nhân như: chơi cờ bạc, số đề, mua vật dụng cá nhân…thì nếu người vợ đưa ra được những chứng cứ chứng minh người chồng đứng ra vay số tiền trên không được đưa vào sử dụng chung thì không có nghĩa vụ liên đới trả khoản vay đó.

Khách hàng quan tâm tư vấn pháp luật bất động sản, hôn nhân gia đình, lao động, cạnh tranh thương mại, pháp luật hành chính, pháp luật hình sự, mua căn hộ TP. HCM click here , Email: [email protected]

MỌI THÔNG TIN QUÝ KHÁCH HÀNG VUI LÒNG LIÊN HỆ

 Hotline: 0888180027

Bài viết khác

Vì công ty sa thải bà thu khoản 3 điều 126 luật lao động 2012, và khoản 3 điều 125, nên căn cứ theo khoản 8 điều 36..
Theo đánh giá sơ bộ do tình hình dịch Covid diễn biến rất phức tạp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, nên lượng..
Trước hết, cần tư vấn cho anh A biết để yêu cầu đơn phương ly hôn với chị B thì anh phải thuộc một trong các..
tìm hiểu pháp lý dự án căn hộ chung cư là 1 trong những vấng đề mà khách hàng muốn tìm kiếm và hiểu rõ về điều..
Hiện nay, bất động sản là lĩnh vực được rất nhiều người quan tâm. Các giao dịch như chuyển nhượng, mua..
Ngày 23/12/2013, Đoàn kiểm tra của Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch Tỉnh G.L đến kiểm tra nhà trọ Hoàng Lan, cơ sở kinh..
giải đáp các câu hỏi thường gặp khi ly hôn

Đối tác khách hàng

Zinghouse.com trang bất động sản trực tuyến.
pháp luật và bất động sản
Zinghouse.com trang bất động sản trực tuyến.
Đối tác
tecombank
ldgsky
Đối tác 6
Đối tác 1
Nhận báo giá và ưu đãi